“Đường chữ U” và những toan tính của học giới Trung Quốc “Đường chữ U” và những toan tính của học giới Trung Quốc

Phạm Hoàng Quân

Chiến lược hải dương bá đạo của Trung Quốc như đã trình bày trước đây tuy thật đáng ngại cho các quốc gia xung quanh và cũng đáng ngại trong vấn đề tự do hàng hải và an toàn hàng hải đối với nhiều quốc gia khác. Tuy nhiên, chiến lược hải dương ấy bao gồm và bị chi phối/ khống chế bởi sách lược hợp thức hóa bản đồ “đường chữ U” trên bình diện luật pháp quốc tế.
Bản đồ Trung Quốc có “đường chữ U” chiếm gần trọn biển Đông biểu thị ý chí bá quyền của các nhà lãnh đạo Bắc Kinh là vấn đề không mới và được nghiên cứu, bàn thảo, chỉ trích không ít từ hơn 60 năm qua. Tuy nhiên, vấn đề “đường chữ U” thật sự nóng lên sau khi chính phủ Trung Quốc chính thức trình lên Liên Hiệp Quốc bản đồ này vào tháng 5 năm 2009, với lý giải mông lung rằng nó biểu thị lãnh hải Trung Quốc. Không lường trước được sự phản ứng dữ dội của các quốc gia xung quanh và cộng đồng quốc tế vì hành động tự tin quá đáng của mình, nên có nhiều lúc, ngoại giao Trung Quốc đã bộc lộ sự lúng túng. Học giới Trung Quốc có sự chuẩn bị gì những từ vài mươi năm trước và toan tính gì trước tình thế hiện nay?
Có một số cái nhìn từ bên ngoài cho rằng Trung Quốc đang sử dụng chiến lược “ngoại giao mơ hồ” trong vấn đề liên quan đến vùng biển Đông Nam Á, nhiều chuyên gia, học giả Trung Quốc cũng thấy điều này, có nhiều phân tích sâu sắc còn cho thấy đó chỉ là chiến thuật “ngoại giao mơ hồ” trong tình thế bị động. Theo một nghiên cứu mới công bố hồi tháng 4 (2014) của Trương Khiết (Zhang Jie) – chuyên viên Viện nghiên cứu chiến lược châu Á – Thái Bình Dương và Toàn cầu thuộc Viện Khoa học xã hội Trung Quốc- vấn đề áp dụng quá lâu dài chính sách mơ hồ trong vấn đề đường chữ U ở Nam Hải đã khiến chính phủ Trung Quốc gặp bất lợi ở cả hai mặt đối ngoại và đối nội. Về đối ngoại, “đường chữ U” đã làm cho các quốc gia xung quanh nghi ngờ, kinh sợ, góp phần chứng minh cho thuyết “Trung Quốc uy hiếp luận” (Luận về sự uy hiếp của Trung Quốc)1, cũng tạo cho Mỹ cơ hội lấy lý do an toàn hàng hải và quyền tự do hàng hải để can thiệp. Về đối nội, do “đường chữ U” không có chỗ đứng rõ ràng trong các định chế liên quan đến quy tắc hành chính nên dẫn đến tình trạng không rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ trong hoạt động chấp pháp, xử lý, khai thác, quản lý giữa các cơ quan nhà nước. Quan trọng hơn, tính chất bất minh của “đường chữ U” còn khiến dân chúng kỳ vọng vào một vấn đề không sát thực tế, và cũng gây áp lực không nhỏ đối với chính phủ trong việc chọn lựa/soạn thảo chính sách.2 Đương nhiên là những ý kiến của Trương Khiết hoặc các phản ánh tương tự như trên không nhằm khuyến cáo chính phủ Trung Quốc gỡ bỏ “đường chữ U” trên bản đồ hay trong tư tưởng, mà chúng chỉ nằm trong chuỗi phân tích nhằm hướng vấn đề đến các biện pháp dứt khoát, mạnh mẽ, nhanh chóng hơn để hợp thức hóa“đường chữ U”.
Các học giả thiên về nghiên cứu chiến lược đặt ra hai mục tiêu đối với vấn đề hợp thức hóa“đường chữ U”, một là phải vận dụng trí tuệ để tìm giải pháp lập luận pháp lý cho yêu sách “đường chữ U” phù hợp với Công ước biển 1982, và hai là cũng là trước tiên là phải thống nhất quan điểm về cách lý giải tính chất “đường chữ U” trong nội bộ học giới Trung Quốc.
Một đường bốn nẻo
Học giới Việt Nam thường dùng từ “Đường lưỡi bò” để chỉ “Đường chữ U”, tuy nhiên, khi vào từ khóa , nên sử dụng “U 形线/ U hình tuyến” hoặc “九段线 /cửu đoạn tuyến” hoặc “斷续线/ đoạn tục tuyến” sẽ gặp nhiều thông tin, các tác giả Trung Quốc được dẫn trong bài này dùng 3 cách gọi, ở đây dùng thống nhất là “Đường chữ U”.
Đến hiện nay, có nhiều cách giải thích tính chất “đường chữ U”, theo những nghiên cứu chuyên sâu vấn đề này như của Lưu Nam Lai (Liu Nanlai), Lý Kim Minh (Li Jinming), Quản Kiến Cường (Guan Jianqiang), Trương Khiết v.v thấy xếp vào 4 xu hướng chính, gọi là 4 thuyết, như sau:
1/ Thuyết “Đường biên giới quốc gia” (Quốc giới tuyến)
Thuyết này xác định rằng “đường chữ U” là “Đường biên giới quốc gia”, cũng còn gọi là “Đường biên giới trên biển”(Hải thượng cương vực tuyến)3, đại diện cho nhóm học giả có cùng chủ trương này là Trần Đức Cung (Chen Degong / 陈德恭) – Giáo sư, chuyên ngành Luật biển quốc tế hiện đại, Khoa Luật, Đại học Nhân Dân Trung Quốc, nguyên chuyên viên Sở nghiên cứu chiến lược phát triển hải dương thuộc Cục Hải dương quốc gia- ông Trần cho rằng: “có thể coi ‘đường 9 đoạn ngắt quãng liên tục’ làm thành ‘đường biên giới quốc gia’, nguồn tài nguyên sinh vật và phi sinh vật trên mặt biển, ở đáy biển và lòng đất dưới đáy biển trong phạm vi này Trung Quốc được thụ hưởng như là quyền lợi mang tính lịch sử.”4
Cũng có thể kể thêm quan điểm của Triệu Lý Hải (Zhao Lihai) – Giáo sư Học viện Luật Pháp thuộc Đại học Bắc Kinh- rằng: “Trong mấy chục năm qua, đường ngắt quãng liên tục ở Nam Hải được Trung Quốc một mạch kiên trì xem đó là đường biên giới trên biển”.5
Học giả Đài Loan Phó Côn Thành (Kuen-chen Fu) trong Nghiên cứu về địa vị luật pháp biển Nam Hải Trung Quốc cũng có khuynh hướng ủng hộ thuyết này.6 (sau sẽ gọi tắt là Thuyết U.1)
Nhóm chủ trương Thuyết U1 đưa ra lập luận dựa vào các bản đồ soạn vẽ thời Trung Hoa Dân Quốc, gồm: “Bản đồ các đảo Nam Hải Trung Quốc / Trung Quốc Nam hải đảo dữ đồ” (1935), bản đồ “Bản đồ toàn Trung Quốc sau khi phát triển cương giới biển về phía nam/ Hải cương nam triển hậu chi Trung Quốc toàn đồ” in trong tập Trung Hoa kiến thiết tân đồ (1936), và “Bản đồ vị trí các đảo Nam hải / Nam hải chư đảo vị trí đồ” (1947). Điểm mấu chốt trong lập luận của Thuyết U1 là, do các bản đồ hoạch định phạm vi cương vực lãnh thổ Trung Quốc với đường biên giới trên biển và với điểm cực nam cụ thể là bãi ngầm Tăng Mẫu (~ 4 độ vĩ bắc) nên “đường chữ U” thể hiện đủ tính chất “Đường biên giới quốc gia”, nhóm này đầu tư nghiên cứu sâu về các văn bản hành chính liên quan đến các bản đồ nằm trong khối hồ sơ lưu trữ thời Dân Quốc để chứng minh tính hợp pháp của đường biên giới quốc gia trên biển được thể hiện trên các bản đồ nêu trên.
2/ Thuyết “Vùng nước mang tính lịch sử” (Lịch sử tính thủy vực)
Thuyết này xác định rằng“đường chữ U” là “Đường thể hiện vùng nước mang tính lịch sử” của Trung Hoa Dân Quốc, học giới Việt Nam gọi tắt là “vùng nước lịch sử”. Nội dung thuyết này cho rằng các đảo, đá, đá ngầm, bãi ngầm và vùng biển trong phạm vi đường này đều do Trung Hoa Dân Quốc thụ hưởng như là quyền lợi mang tính lịch sử, vùng biển trong phạm vi “đường chữ U” là vùng nước mang tích lịch sử của Trung Hoa Dân Quốc. Thuyết này do chính quyền Đài Loan đề xuất. Năm 1989, khái niệm “vùng nước lịch sử” được Bộ nội chính chính quyền Đài Loan đề cập tại Điều 3 của “Hồ sơ dự thảo Luật lãnh hải và khu vực tiếp giáp Trung Hoa Dân Quốc”. Đến năm 1993, Viện Lập pháp chính quyền Đài Loan chính thức thông qua “Cương lĩnh chính sách Nam Hải”, đoạn thứ hai trong Lời tựa Cương lĩnh viết: “Vùng nước lịch sử giới hạn trong vùng biển Nam Hải là vùng biển do Trung Hoa Dân Quốc quản lý, Trung Hoa Dân Quốc sở hữu lợi ích và có quyền sở hữu trong vùng biển ấy.”7
Học giả Đài Loan ủng hộ chủ trương này và nghiên cứu về khía cạnh pháp lý vấn đề này sớm là Tống Yến Huy (Yann-huei Song), tiến sĩ Luật Berkeley (Uni. Of California), chuyên gia Sở nghiên cứu Âu Mỹ- Viện nghiên cứu Trung ương, nguyên Phó giáo sư Sở nghiên cứu luật biển- Đại học Hải Dương, và một học giả Mỹ gốc Đài rất danh vọng là Chiu Hungdah (Khâu Hoằng Đạt), tiến sĩ luật Harvard, từng giữ chức vụ Hội trưởng Tổng hội thế giới “Hội luật học quốc tế/ International Law Association” (1998-2000). Các chuyên gia luật quốc tế, luật biển nổi tiếng khác như Phó Côn Thành (Kuen-chen Fu), Du Kiếm Hồng (Peter Kien-hong Yu), Du Khoan Tứ (Yu, Steven Kuan-Tsyh), Triệu Quốc Tài (Zhao Guocai), Trần Hồng Du (Hurng-Yu Chen), Hoàng Dị (Huang Yi), Tôn Kiến Minh (Kuan-ming Sun) vv… cũng có nhiều công trình nghiên cứu sâu về khía cạnh pháp lý.8.
Tuy nhiên, đến ngày 12 tháng 5 năm 2009, trong tuyên bố của Bộ ngoại giao chính quyền Đài Loan về vấn đề này, khái niệm “vùng nước lịch sử” đã không được dùng mà thay thế bằng khái niệm “Chu tao thủy vực/ vùng nước vòng quanh”.9
Gần đây, nghiên cứu sinh Luật quốc tế Đại học Oxford Tống Thừa Ân (Raymond Chen-En Sung) có một nghiên cứu phân tích sâu sắc vấn đề này, dẫn giải thêm khái niệm hỗn hợp “Lịch sử tính thủy vực quyền lợi” (quyền lợi trong vùng nước mang tính lịch sử).10
Một số học giả Trung Quốc lục địa lúc đầu cũng tán đồng thuyết này, sau lại nghiên cứu, phân tích và/ hoặc phối hợp với thuyết U.3, diễn giải như một cặp lý luận hỗ tương. (Thuyết U.2)
3/ Thuyết “Quyền lợi mang tính lịch sử” (Lịch sử tính quyền lợi)
Thuyết này xác định rằng“đường chữ U” là “Đường thể hiện quyền lợi mang tính lịch sử” của Trung Quốc, học giới Việt Nam gọi tắt là “quyền lợi lịch sử”. Do Phan Thạch Anh (Pan Shiying)- chuyên gia nghiên cứu chiến lược hải dương thuộc Viện Khoa học quân sự Trung Quốc- chủ trương. Về nguồn gốc khái niệm này, nguyên trong một bài nghiên cứu đăng vào tháng 10 năm 1994, ông Phan sử dụng khái niệm “Lịch sử tính quyền lực” (quyền lực mang tính lịch sử), nhưng trong bài nghiên cứu đăng tháng giêng năm 1995 và quyển sách xuất bản năm 1996, ông Phan sử dụng khái niệm “Lịch sử tính sở hữu quyền” (quyền sở hữu mang tính lịch sử), và cho rằng: “Trung Quốc lấy nét đứt 9 đoạn làm đường biên giới quốc gia biểu thị tại vùng biển Nam Hải, làm thành ‘quyền sở hữu mang tính lịch sử’ trong phạm vi tiêu chí ấy”. Và lập luận rằng, đường 9 đoạn ở Nam Hải Trung Quốc đã tồn tại hơn nửa thế kỷ, không có quốc gia nào đề xuất ý kiến khác, mà Trung Quốc đã từng tuyên bố về vùng nước mang tính lịch sử trước lúc luật biển quốc tế hiện đại quy định chế độ thềm lục địa, do vậy không thể lấy công ước luật biển hiện đại để thủ tiêu hoặc phủ định luật pháp trong lịch sử và tập quán quốc tế.11
Giáo sư Zou Keyuan (Trâu Khắc Uyên) từ Viện nghiên cứu Đông Á thuộc Đại học Quốc gia Singapore (NUS) cho rằng khái niệm “quyền lợi lịch sử” đối với đường chữ U có thể đáng tin nhất, vì Trung Quốc rất dễ dàng chứng minh vùng biển này là “quyền lợi” của ngư dân Trung Quốc từ rất lâu trong “lịch sử”.12 Vài học giả khác gần đây như Trịnh Chí Hoa (Zheng Zhihua), Vương Quân Mẫn (Wang Junmin) đã phát triển các yếu tố phạm vi “quyền lợi lịch sử” khác như quyền lợi về hàng hải, gọi chung là quyền lợi kinh tế truyền thống. Và quyền lợi hiện đại như dầu khí hiện nay chỉ là sự tiếp diễn các loại quyền lợi trước đây.13
4/ Thuyết “Đường quy thuộc các đảo” (Đảo dữ quy thuộc tuyến),
Thuyết này xác định rằng“đường chữ U” là đường “Vây quanh các đảo và vùng nước lân cận thuộc bộ phận lãnh thổ Trung Quốc”, còn gọi là “Đảo dữ phạm vi tuyến” (đường vây quanh các đảo). Tiêu biểu cho nhóm chủ trương thuyết này là Cao Chi Quốc (Gao Zhiguo) và Lưu Nam Lai (Liu Nanlai). Cao Chi Quốc là Sở trưởng Sở nghiên cứu chiến lược hải dương thuộc Cục hải dương quốc gia, nêu vấn đề này và lập cơ sở lý luận cho nó vào năm 1994. 14 Lưu Nam Lai là giáo sư khoa luật Đại học Nhân Dân Đông Bắc, nghiên cứu viên Sở nghiên cứu luật học- Học viện Khoa học xã hội, năm 2009 được chính phủ Trung Quốc cử làm Trọng tài viên tại Tòa án Quốc tế, trong một tham luận trình bày tại “Hội thảo Vấn đề Nam Hải” ở Hải Nam năm 2002, giáo sư Lưu phân tích 4 thuyết và xác định tính chất của “đường vây quanh các đảo” là phù hợp nhất để giải thích “đường chữ U”, và cũng khẳng định rằng việc giải thích “đường chữ U” theo phương án này hoàn toàn phù hợp với “Công ước lãnh hải và khu vực tiếp giáp” năm 1958 của Trung Quốc và “Công ước luật biển năm 1982” của Liên hiệp quốc. 15
Đây là thuyết được số đông học giả Trung Quốc tán đồng (Thuyết U.4)
Lựa chọn làm sao?
Ứng với 4 thuyết/ khái niệm nêu trên là 4 phương án giải thích và chính phủ Trung Quốc phải chọn lựa 1 trong 4 phương án để kiện toàn hồ sơ pháp lý trong trường hợp tòa quốc tế yêu cầu. Trước tình hình này, học giới Trung Quốc đã không ngừng tiếp thu các phản biện từ bên ngoài, cập nhật nhanh chóng kể cả các bài phân tích ít ỏi của vài tác giả Việt Nam như Nguyễn Hồng Thao, Trần Trường Thủy, Vũ Quang Việt nhằm điều chỉnh hoặc loại trừ các yếu tố bất lợi trong lập luận của họ. Hiện tại, theo phản ánh của nhiều học giả như Trương Khiết, Quản Kiến Cường, Lý Kim Minh v,v thì chính phủ TQ vẫn đang lưỡng lự, trong khi các học giả đều nôn nóng có một chủ trương rõ ràng, chọn hẳn một phương án giải thích.
Ngoài những phản bác rất sắc bén của học giới quốc tế, những phân tích từ bên trong nội bộ học giới Trung Quốc cho thấy luận cứ của các thuyết U.1, U.2 và U.3 không đứng vững. Đa số học giả ủng hộ thuyết U.4 cho thấy họ có giải pháp tối ưu dành cho nó. Tuy nhiên, độ tin cậy quả quyết về thuyết U.4 cũng không phải là mạnh. Có lẽ đây cũng là nguyên nhân khiến chính phủ Trung Quốc chủ trương tránh quốc tế hóa vấn đề và tránh hoặc từ chối đưa vụ việc ra tòa quốc tế.
Tuy là thuyết U.4 được nhiều học giả uy tín đề nghị, nhưng lại thấy gần đây nhất, trong bài viết của Trịnh Chí Hoa trên Nhật báo Pháp Chế (10/6/2014) và của Vương Quân Mẫn trên Thời báo Học Tập (7/7/2014), lý lẽ của thuyết U3 vẫn được vận dụng, và vấn đề tranh chấp bãi cạn Scarborough (Hoàng Nham) với Philippines cũng được dẫn chứng phân tích.
Nhìn chung, một mặt, học giới Trung Quốc đang nỗ lực vận dụng trí tuệ để “đường chữ U” hợp thức, trong đó có biểu hiện mũi nhọn là xu hướng lập ngoại lệ pháp cho “đường chữ U”, ở một mặt khác, tinh thần của giới học thuật nhìn chung vẫn quyết tâm kiên trì giữ vững “đường chữ U”, bất kể trong tương lai nó có hợp thức hay không. Trong phần kết luận một bài viết phân tích lợi hại của các phương án lập luận, Giáo sư Lý Kim Minh – Chuyên viên Trung tâm nghiên cứu Đông Nam Á Đại học Hạ Môn- viết: “Bất kể luận điểm pháp lý sau cùng nhận định về đường chữ U ra sao, trên bản đồ nó vẫn phải tồn tại không thể nào loại bỏ, mà phải bảo vệ bồi đắp hơn nữa.”
Ẩn trong một nghiên cứu công phu về chiến lược pháp lý, Trương Khiết cũng gợi ý rằng chính phủ Trung Quốc nên kiên trì đường lối ngoại giao chính trị với Việt Nam để giải quyết riêng vấn đề Nam Hải.
Về phía Việt Nam, có lẽ các chuyên gia luật biển, luật quốc tế cần phải nghiên cứu nhiều hơn những tình tiết trong lập luận của 4 thuyết, và cả các biến thể từ U.2+U.3 hoặc U.3+U.4. Một tình huống giả định là nếu như thuyết U.4 được chọn, tức là Trung Quốc hoàn toàn không cần thiết vận dụng tư liệu sử cổ đại (từ 1840 trở về trước) và trong các loại tư liệu sử cận đại lại chỉ đặt trọng tâm vấn đề vào các tư liệu thời Dân Quốc chẳng hạn, trong khi các loại tư liệu này đại đa số là loại hồ sơ lưu trữ không dễ tiếp cận toàn diện. Đây cũng là một trong những vấn đề học thuật cần phải tính đến.
———–
1/ Trung Quốc uy hiếp luận (中國威脅論/ The China Threat Theory) được khơi mào vào khoảng 1960-1980 do một số học giả Nhật Bản, năm 1990 chính thức hình thành và phổ biến rộng do giáo sư Đại học Phòng vệ Nhật Bản Thôn Tỉnh Hữu Tú (Murai… /村井友秀). Tiếp sau đó, vào năm 1992 được giáo sư Samuel P. Huntington – khoa chính trị Đại học Harvard- phát triển, bổ sung, nội dung xoáy vào 4 vấn đề: uy hiếp kinh tế, uy hiếp quân sự, dân tộc tính uy hiếp và uy hiếp văn hóa của Trung Quốc đối với thế giới. Đây là một luận thuyết chính trị khiến Trung Quốc rất bực bội, và phải bỏ ra một lực lượng học giả khá đông để nghiên cứu phản bác.
2/ Trương Khiết (Zhang Jie / 張洁), “Nhận thức về đường đứt đoạn ở Nam Hải và sự chọn lựa chiến lược của Trung Quốc”, Tạp chí “Nghiên cứu chính trị quốc tế” (Tạp chí 2 tháng 1 kỳ, của Học viện Quan hệ quốc tế- Đại học Bắc Kinh), số 2, 2014.
3/ Quản Kiến Cường (Guan Jianqiang/ 管建强) gọi là “Đường biên giới quốc gia /Quốc giới tuyến”; Lý Kim Minh (Li Jinming/ 李金明) gọi là “Đường biên giới trên biển/ Hải thượng cương vực tuyến”. Xem Guan Jianqiang, “Nghiên cứu luận điểm pháp luật của đường 9 đoạn Nam Hải”, tạp chí Quốc Tế Quan Sát, số 4, 2012; và Li Jinming, “Đường đứt đoạn Nam Hải: Bối cảnh mới và luận điểm pháp luật”, tạp chí Hiện Đại Quốc Tế Quan Hệ, tháng 9, 2013.
4/ Dẫn lại, xem Quản Kiến Cường, “Nghiên cứu luận điểm pháp luật của đường 9 đoạn Nam Hải”, tạp chí Quốc tế quan sát – Đại học Ngoại ngữ Thượng Hải, số 4, 2012; hoặc xem Yann- huei Song (Tống Yến Huy), United States and Territorial Disputes in the South China Sea: A Study of Ocean Law and Politics, University of Maryland School of Law, Maryland, 2002. Trang 144.
5/ Triệu Lý Hải (Zhao Lihai/ 赵理海), Nghiên cứu vấn đề Luật biển, nhà xuất bản Đại học Bắc Kinh, 1996, trang 38.
6/ Phó Côn Thành (Kuen-chen Fu / 傅崑成), Nghiên cứu luận điểm luật pháp biển Nam Hải Trung Quốc, Tư Tấn hữu hạn công ty xuất bản, Đài Bắc, 1995, trang 204.
7/ Chính thức công bố ngày 13/4/1993, toàn văn xem tại trang web của Ty Địa chính-Bộ Nội chính Trung Hoa Dân Quốc: http:/www.land.moi.gov.tw/law/chhtml/historylaw1.asp?Lclassid=224
8/ Tiêu biểu có thể xem: Yann-huei Song (宋燕輝), “Bàn về chế độ pháp luật của vùng nước mang tính lịch sử Nam Hải”, tạp chí Vấn đề và Nghiên cứu, số 8, 1993; Yann-huei Song (宋燕輝), “Vùng nước mang tính lịch sử và tranh luận chủ quyền Nam Hải”, tạp chí Chính Sách Quốc Tế, số 96, 1994; Chiu Hungdah (丘宏達), “Chế độ pháp luật của vùng nước mang tính lịch sử Nam Hải nước ta”, tạp chí Vấn đề và Nghiên cứu, số 8, 1993; Yann-huei Song and Peter Kien-hong Yu (宋燕輝 & 俞劍鴻), “China’s ‘Historic Waters’ in the South China Sea: An Analysis from Taiwan, R.O.C.”, American Asian Review, Vol. 12, No. 4, 1994; Zhao Guocai (趙國材), “Theo quan điểm luật quốc tế phân tích chế độ pháp luật của vùng nước mang tính lịch sử ở Nam Hải nước ta”, tạp chí Vấn đề và Nghiên cứu, số 8, 1993 ; Kuan-Ming Sun (孫建明), “Policy of the Republic of China towards the South China Sea: Recent Developments”, Marine Policy, Vol.19, No.5, 1995; Yu, Steven Kuan-Tsyh (俞寬賜) , “Luận điểm pháp luật của đường chữ U Nam Hải nước ta”, tạp chí Lý Luận và Chính Sách, số 1, 1993; Huang Yi (黄異), “Địa vị pháp luật vùng nội thủy đường chữ U trong chủ trương nước ta”, tạp chí Phụ Nhân Pháp học, số 14, tháng 6/ 1995; Yu, Steven Kuan-Tsyh (俞寬賜), “Luận điểm và tính chất pháp lý của đường chữ U và vùng nội thủy Nam Hải nước ta”, Trung tâm nghiên cứu Nam Hải, Hải Nam, 2001.
9,10/ Tống Thừa Ân (宋承恩/ Raymond Chen-En Sung), “Chủ trương của Trung Quốc tại vùng nước ở Nam Hải- Bàn riêng về luận cứ lịch sử tính”, 2012. http://www.cils.nccu.edu.tw/about/fellows/raymond-chen-en-sung/
11/ Phan Thạch Anh (潘石英), “南海與歷史性權力的國際慣例/ Nam Hải và tập quán quốc tế của quyền lực mang tính lịch sử”, tạp chí Chính sách quốc gia, số 96, tháng 10, 1994; “Phấn khởi bất ngờ, bảo vệ đất nước màu xanh”, báo Trung Quốc hải dương thạch du (Hải dương dầu mỏ), ngày 27/1/1995 ; và sách Nam Sa quần đảo- Chính trị dầu mỏ- Luật quốc tế, báo Hương Cảng Kinh tế đạo xuất bản, 1996, trang 61.
12/ Zou Keyuan (鄒克渊), “Historic Rights in International Law and in China’s Practice”, Ocean Development & International Law, Vol.32, No.2, 2001.
13/ Wang Junmin (王军敏), “Quyền lợi của Trung Quốc tại Nam Hải nhìn theo luật quốc tế”, Thời báo Học Tập, 7/7/2014; Zheng Zhihua (郑志华), “Chủ trương quyền lợi mang tính lịch sử ở Nam Hải của Trung Quốc là dựa theo pháp luật”, Nhật báo Pháp Chế, ngày 10/6/2014 http://epaper.legaldaily.com.cn/fzrb/content/20140610/Articel10002GN.htm
14/ Zhiguo Gao (高之國), “The South China Sea: From Conflict to Cooperation”, Ocean Development & International Law, Vol.25, 1994.
15/ Liu Nanlai (刘楠来), 从国际海洋法看U形线的法律地位 , in trong Kỷ yếu hội thảo Vấn đề Nam Hải, Trung tâm nghiên cứu Nam Hải, Hải Nam, 2002.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s