[Roderik Ptak] CÁC ĐẢO Ở BIỂN ĐÔNG THEO CÁC TÀI LIỆU CỦA TRUNG QUỐC (P2-từ đời Tống đến đời Minh)

Các tài liệu liệu của Trung Quốc thời kỳ nhà Minh hoặc là rất ít, hoặc có thì hoàn toàn không đề cập đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, thậm chí các bản đồ và tài liệu hàng hải cũng vậy. Tuy nhiên, các học giả, nhà báo Trung Quốc vẫn nỗ lực “bất thường” để chứng mình Biển Đông vốn là “cái hồ nội địa” của mình, và nghiễm nhiên “kéo” Brunei và Malaysia  trở thành hàng xóm, láng giềng của nước này.

 

 

Các tài liệu viết của Trung Quốc thời nhà Minh

Các tác phẩm đầu thời nhà Minh viết rất ít về quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Mã Hoan và Phí Tín hoàn toàn không đề cập đến chúng mặc dù cả hai ông đều đi thuyền theo hạm đội của Trịnh Hòa tới Ấn Độ Dương và do đó đã từng biết đến tất cả các điểm dừng chân và các điểm mốc dọc tuyến đường phía Tây. Có thể họ coi các đảo này là không quan trọng và do vậy đã không để ý đến việc nói về chúng. Chỉ có một đoạn ngắn ngủi trong một bài thơ của Mã Hoan (có lẽ viết vào năm 1416) có thể được người ta gắn với chúng. Trong lời của những chiếc cối xay: “Những con sóng đáng yêu cuộn giữa biển khơi trào đến vỗ bờ; một dải núi, những chỏm xanh trôi nổi, mờ dần và văng vẳng một cách bí hiểm” Một số học giả cho rằng từ “những chỏm xanh trôi nổi” (Thanh Loa) có lẽ thể hiện cái tên cổ “Cửu Nhũ Loa Châu” (Jiu Ru Luo Zhou) được ghi lại trong cuốn Vũ Kinh Tổng Yếu và thường được đánh đồng với các đảo san hô ở Biển Đông, nhưng sự giống nhau giữa các từ ngữ này có thể cũng chỉ là sự tình cờ[13].

Một tác phẩm tiếp theo được viết xong hồi đầu thế kỷ 16: cuốn “Tây dương triều cống Điển lục” (Xiyang Chaogong Dianlu) (lời tựa ghi năm 1520). Sách nêu một số địa điểm dọc tuyến đường đi từ Phúc Kiến đến bờ biển Champa, nhưng không có địa điểm nào trong số này có thể được đồng nhất một cách chắc chắn với quần đảo Hoàng Sa hay quần đảo Đông Sa. Tuy nhiên đoạn mô tả về tuyến đường trong sách này lại có tầm quan trọng vì nó được sưu tập từ một cuốn chuyên luận về hàng hải hiện dã bị thất lạc[14]. Cũng vào khoảng thời đó, từ Trường Sa và từ Thạch Đường được nêu ra trong cuốn Chính Đức Quỳnh Đài Chí (Zhengde Qiongtai Zhi, 1521). Các đoạn trích có liên quan lại được dẫn lại từ các tác phẩm ra đời trước đó và gợi lại những tuyến đường tương tự trong cuốn Dư Địa Kỷ Thắng cùng những tác phẩm khác. Chúng không bổ sung gì mới cho những điều người ta vốn đã biết[15].

Các đoạn trích khác có niên đại từ thế kỷ 16 của tài liệu Trung Quốc có thể tìm thấy trong các tác phẩm sau đây: ‘Hải Ngũ” (Haiyu) của Hoàng Trung (1536), cuốn “Hải Tra Dư Lộ” của Cô Giới (Gu Jie, 1540), cuốn Quảng Đông thông chí của Hoàng Tá (Huang Zuo, 1560) và nhiều bản đồ mà tôi sẽ nói đến chúng sau đây. Hoàng Trung đưa thêm từ “vạn lý” vào trước cả hai từ Trường Sa và Thạch Đường. Ngoài ra, ông còn nói rằng Vạn lý Trường Sa nằm về phía Đông Nam của Vạn lý Thạch Đường. Do đó, một số học giả Trung Quốc đã đồng nhất Vạn lý Trường Sa với quần đảo Trường Sa nằm ngoài khơi bờ biển Sarawak. Sẽ thực tế hơn khi chúng ta giả định rằng Hoàng Trung không thật sự hiểu rõ những gì mà ông ta đã đề cập đến khi nói về những vùng đất xa xôi đó. Có lẽ ông chỉ nói về chúng bởi vì ông muốn tìm cách thu hút sự chú ý của người đọc. Để làm được việc đó, ông đã gắn chúng với ma quỷ và với tất cả các loại hiện tượng kỳ dị, chẳng hạn như Lưu Sa Hà (sông Lưu Sa: sông cát trôi) và Nhược Thủy (nước yếu) là hai địa danh truyền thuyết trong tiểu thuyết Tây Du Ký và hàng tá tiểu thuyết khác[16]. Cô Giới (Gu Jie) và Hoàng Tá cũng theo khuynh hướng mới đó, ít nhiều lặp lại những ý tưởng của Hoàng Trung[17].

Ta có thể tìm thấy các đoạn trích khác về các đảo trong Biển Đông trong các tác phẩm viết giữa và cuối thời nhà Minh. Hầu hết các tác phẩm này đều viết dựa vào các tài liệu viết trước và hiếm có bổ sung thêm gì mới cho những dữ liệu đã đưa ra trên đây. Thậm chí trong một số trường hợp chúng còn rất sai lạc. Ví dụ như trong cuốn Tây An Biên Lục của Luo Yuejiong (1597). Theo tài liệu này, Vạn Lý Thạch Đường nằm gần “nước Liuqiu”. Hơn nữa, “chỉ một phần mười số tàu thuyền bị gió Đông cuốn vào đó (các đảo đá) là còn sống sót”[18]. Ta có thể đưa ra hai lời bình luận: thứ nhất, vào cuối thế kỷ 16, từ Liuqiu là tên chỉ quần đảo Điếu Ngư nằm không xa đảo Đài Loan; thứ hai, ‘gió Đông’ đúng hơn cần phải thay bằng “gió Tây” hoặc “gió Bắc”.

Như đã nói, với chúng tôi hầu hết các đoạn trích trong các tác phẩm địa lý và dân tộc học cuối thời Minh đều ít đáng để quan tâm; vì vậy, tôi sẽ tiếp tục bằng việc xem xét các bản đồ và các chuyên khảo khác về hàng hải.

Các bản đồ và các tài liệu hàng hải của Trung Quốc

Có một số bản đồ giao thời Nguyên – Minh đáng để chú ý ở đây. Một tác phẩm quan trọng là một bản đồ thế giới của Triều Tiên có tên là Hunyi Jiangli Lidao guodu Zhitu (Hon-il Kangni Yoktae Kukto chi to) được soạn từ năm 1402. Nó dựa vào truyền thống của các nguồn tài liệu viết trước đó của Trung Quốc từ thế kỷ 14 hiện nay đã bị thất lạc. Bản đồ năm 1402, được lưu giữ lại qua một bản sao khoảng năm 1500, đầu tiên đã được một học giả Nhật – ông Ogawa Tajuji Needham kiểm nghiệm, trích dẫn Ogama, nói rằng bản đồ này liệt kê 100 địa điểm ở Châu Âu và Arores (những cái đối với độc giả Nhật đương thời có lẽ không là cái gì hơn ngoài một lời chú thích kỳ lạ). Kém đẹp mắt hơn, phần vẽ Châu Á đã thể hiện Trường Sa và Thạch Đường bằng những chấm đen ở đâu đó ngoài khơi bờ biển phía Nam Trung Quốc. Tuy nhiên cách thể hiện hai địa danh này trong bản đồ làm người ta rất  khó đồng nhất chúng với những nhóm đảo cụ thể nào. Người ta tự hỏi tại sao một khu vực tương đối gần gũi như Biển Đông lại chỉ được thể hiện một cách nghèo nàn như vậy trong khi trái lại, những địa điểm xa xôi như trong vùng Tây Á lại được vẽ chính xác hơn rất nhiều. Một lần nữa câu trả lời đơn giản chỉ là chẳng có ai thật sự quan tâm đến các đảo đang nói. Tuy nhiên các học giả Trung Quốc đã đồng nhất chúng với cả hai, ba hay thậm chí cả bốn nhóm đảo: quần đảo Trường Sa, quần đảo Hoàng Sa, bãi ngầm Macclesfield, và nhóm đảo Đông Sa[19].

Một tài liệu khác được xem xét đến ở đây là “Quảng Dư Đồ” (1555). Tập bản đồ này cũng được vẽ dựa vào các nguồn tài liệu trước đó, nghĩa là dựa vào các tác phẩm bản đồ của nhà địa lý nổi tiếng thời Nguyên, Chu Tư Bản (1273-1337). Các bản đồ của Chu Tư Bản hiện nay cũng đã thất lạc nhưng một bản đồ trong tập Quảng Dư Đồ – bản ông đã vẽ nhóm Trường Sa và Thạch Đường – đã cho ta ấn tượng về kiểu địa lý có thể giống với vào cuối thời Nguyên[20]. Các tác phẩm giữa và cuối thời Minh thường sử dụng những thông tin được sưu tầm lại từ Quảng Dư Đồ. Chúng thường có những bản đồ giống nhau hoặc tương tự về Biển Đông, Đông Nam Á, các đảo san hô và các địa điểm khác trong đó. Một ví dụ là trong cuốn “Đồ Thư Biên” của Chương Hoàng (biên soạn khoảng 1562-1577). Một ví dụ khác là trong cuốn Vũ Bị Chí của Mao Nguyên Nghi (1621)[21].

Cuốn Vũ Bị Chí cũng có nhiều loại bản đồ khác nhau thường được các nhà sử học gọi là “bản đồ Mao Kun”. Bản đồ này, hay đúng hơn là bản đồ hàng hải này, còn được biết đến với cái tên “Trịnh Hòa Hàng hải đồ”, miêu tả những tuyến đường biển mà đoàn thuyền của Trịnh Hòa đã đi theo hồi đầu thế kỷ 15. Rất có thể là chúng được vẽ vào thời kỳ đó. Các đảo san hô trong Biển Đông xuất hiện trong mảnh bản đồ về bờ biển tỉnh Quảng Đông. Ba cái tên/từ xuất hiện trên bản đồ này: Thất Tinh, Thạch Đường, Vạn Thắng Thạch Đường Tu, và Thạch Đường. Tên đầu tiên được gắn với một dải chấm chấm nhỏ thể hiện các đảo đá, bãi ngầm chìm dưới mặt nước. Khu vực này có thể được đồng nhất với bãi ngầm Maccalesfield và quần đảo Đông Sa. Như vậy hai tên còn lại sẽ thay thế cho quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Cả hai đều được vẽ là các quần đảo nhưng chỉ có một tên là có từ Tu (xu) nghĩa là “đảo nhỏ”. Có lẽ ở đây muốn chỉ ra rằng nhóm sau rộng hơn và “giống đảo” hơn nhóm trước. Tuy nhiên, cũng có thể có nhiều cách giải thích khác. Trong lần tái bản mới đây của bản đồ Mao Kun, Thất Tinh Thạch Đường được đồng nhất với nhóm đảo Đông Sa (Pratas), Vạn Thắng Thạch Đường Tu được đồng nhất với bãi ngầm Macclesfield và Thạch Đường được đồng nhất với quần đảo Hoàng Sa (mặc dù tại một trang khác của chính tác phẩm người ta có thể tìm thấy những cách giải thích khác)[22].

Người ta có thể tìm thấy trong các cuốn nhật ký hàng hải một số đoạn trích được sưu tập trong những đoạn dẫn giải về hàng hải. Khi chúng tôi nghiên cứu đến các tài liệu giai đoạn cuối thế kỷ 16 đầu thế kỷ 17, nhiều bằng chứng loại này xuất hiện nhiều hơn trong các chuyên luận về hàng hải khác nhau. Chúng có thể gắn với giai đoạn các nhà hàng hải ở Quảng Châu và Phúc Kiến cầm trịch các hoạt động thương mại của tư nhân Trung Quốc[23]. Không phải tất cả các cuốn nhật ký hàng hải thời này đều đề cập trực tiếp đến quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, nhưng phần lớn trong số chúng đều có những đoạn mô tả chi tiết tuyến đường từ Quảng Đông qua đảo Hải Nam tới bờ biển Việt Nam[24]. Ở đây chúng tôi sẽ chỉ dẫn ra 2, 3 ví dụ điển hình. Cuốn Đông Tây Dương Khảo của Trương Nhiếp (1617/18) có một mục viết về Thất Châu Dương với một đoạn đề cập tới Vạn Lý Thạch Đường[25]. Trong một đoạn thứ hai, tìm thấy ở một cuốn sách khuyết danh “Thuận Phong Tương Tống”, một tác phẩm không rõ nguồn gốc và thời gian sáng tác, người ta nói là Vạn lý Thạch Đường có lẽ nằm về phía Đông của Ngoại La Sơn, nghĩa là Cù Lao Ré (Pulau Cantao) thuộc bờ biển Việt Nam. Ngoài ra, theo cuốn “Thuận Phong Tương Tống” “trong [Vạn Lý Thạch Đường] có (nhiều) đảo đá nhỏ” (Hồng Thạch Tu) không cao; nếu ta có thể nhìn thấy toàn bộ thân tàu, [thì nước] sâu, nếu bạn nhìn thấy đá [khu vực đó] phải tránh xa”. Trong trường hợp này, Vạn lý Thạch Đường là từ chỉ quần đảo Hoàng Sa, Hồng Thạch Tu có thể là tên chỉ một hoặc một số nơi trong nhóm đảo này hoặc chỉ là một từ chung ám chỉ hiện tượng tự nhiên (?) Một số học giả cho rằng đó là phần nhô lên của đảo Vĩnh Hưng (Đảo Phú Lâm – Woody island) thuộc nhóm An Vĩnh (Nhóm Vĩnh An theo tiếng Trung Quốc và Amphitrite theo tiếng Anh)[26].  Đoạn trích vừa dẫn ra này cũng có thể tìm thấy trong một tác phẩm ra đời muộn hơn, cuốn “Chỉ Nam Chính Pháp”- khuyết danh. Tác phẩm này cũng đề cập tới một nơi được gọi là Nam Áo Khí, một địa điểm được người ta đồng nhất với quần đảo Đông Sa[27].

Đến đây chúng ta đã đến giai đoạn nhà Thanh – một giai đoạn mà tôi không muốn đưa vào trong bài ghi nhanh này bởi vì các chứng cớ có được rất khác. Chỉ cần nói rằng một số tác phẩm đời Thanh có nhiều chi tiết hơn, chẳng hạn như cuốn “Hải Quốc Văn Kiến Lục”, “Hải Lục” và nhiều tác phẩm khác, và trên hết là một số cuốn nhật ký hàng hải phương Tây chưa bao giờ được nghiên cứu đến. Trước khi có thể đưa ra bất kỳ kết luận chung nào về giai đoạn này ta cần phải nghiên cứu một cách cẩn thận.

Những bằng chứng ban đầu trong tài liệu của Bồ Đào Nha

Có thể tìm thấy những bằng chứng ban đầu trong hiểu biết về hàng hải của Bồ Đào Nha về Biển Đông trong nhiều nguồn tài liệu, đặc biệt là trong các roteiros (cẩm nang hàng hải) và trong các bản đồ. Một số cuốn cẩm nang hàng hải đã được Manguin dịch và phân tích, và phần lớn các bản đồ có liên quan đã được sưu tập lại trong tập Portugaliae Monumenta Cartographica nổi tiếng[28]. Tác phẩm ra đời sớm nhất miêu tả tuyến đường tới Trung Quốc là do Francisco Rodrigues biên soạn khoảng năm 1511/1512. Thông tin để biên soạn cuốn này có lẽ được thu thập từ các hoa tiêu Mã Lai (và những địa phương khác) sau cuộc xâm lược Malacca năm 1511.

Nói chung, các thủy thủ Bồ Đào Nha, cũng như các đồng nghiệp Trung Quốc của họ đều sợ các đảo đá và bãi ngầm ở Biển Đông. Do đó nếu có khả năng, họ sẽ đi men theo đất liền lục địa Đông Nam Á, tránh đi cắt ngang trực tiếp qua vùng trung tâm biển này. Chỉ có những lần hy hữu, họ mới cố gắng đi qua quần đảo Hoàng Sa ven về phía Đông của quần đảo này. Thông thường thì tuyến này cũng phải đi qua phía Đông Pulau Saparo, còn gọi là Baixos de Pulau Sissir (có nhiều cách viết khác nhau). Cả hai đều nằm xa hơn rất nhiều về phía Nam với nghĩa là tuyến đường đi thuyền buồm “bên ngoài” xa hơn một chút so với tuyến đường đi men bờ biển an toàn hơn. Ta không rõ tuyến đường “bên ngoài” được khai phá lần đầu tiên vào thời gian nào. Hình như, người Trung Quốc cũng có khuynh hướng tránh đi tuyến đó vì chẳng có tài liệu Trung Quốc nào cho đến cuối đời Minh đề cập đến con đường này[29].

Uông Đại Uyên, Cô Giới (Gu Jie) và những tác giả khác đều ám chỉ đến những mối nguy hiểm gắn liền với Trường Sa và Thạch Đường như chúng ta đã thấy. Trong trí tưởng tượng của các nhà địa lý và các nhà hàng hải Trung Quốc, những địa điểm thất thường này tạo thành một dải nằm ngang trải dài ở một nơi nào đó về phía Nam tỉnh Quảng Đông. Những bản đồ ban đầu của Bồ Đào Nha vẽ Biển Đông cũng tạo nên một hình ảnh tương tự. Chúng vẽ toàn bộ khu vực này từ quần đảo Hoàng Sa xuống tới Pulau Saparo là một vùng “hình lưỡi liềm” thẳng, khẳng định rằng nó gần như không thể đi qua được mặc dù không có chướng ngại gì lớn giữa quần đảo Hoàng Sa nằm ở đầu cuối phía Bắc vùng đó và Pulau Saparo nằm ở một đầu. Rõ ràng, lý do của việc sắp xếp như vậy là nhằm cảnh báo cho tàu thuyền đi lạc  tuyến đường và bị cuốn vào vùng trung tâm Biển Đông[30].

Vì vậy khu vực “hình lưỡi liềm” thấy trong bản đồ của Bồ Đào Nha cũng có tác động tâm lý giống như những “câu chuyện” đồn đại trong các tài liệu của Trung Quốc hoặc như dải cát được mô tả trong tài liệu Việt Nam hồi thế kỷ 15[31]. Trong mọi trường hợp, các thủy thủ đều được người ta yêu cầu phải tránh khu vực nguy hiểm này. tuy nhiên có một số khác biệt về mặt địa lý: ”khu vực” vẽ trong bản đồ của Bồ Đào Nha chạy song song với bờ biển Việt Nam và rõ ràng không bao gồm bãi ngầm Macclesfield; “dải thành luỹ” được mô tả trong tài liệu của Trung Quốc  trải dài từ nhóm đảo Đông Sa tới quần đảo Hoàng Sa, ít nhiều song song với bờ biển Quảng Đông. Chỉ có trong một số tài liệu của Trung Quốc đem lại cho chúng tôi một chút gợi ý về khu vực tương tự với khu vực được người Bồ Đào Nha mô tả, nghĩa là nằm dọc theo bờ biển Việt Nam, giữa quần đảo Hoàng Sa nằm phía Bắc và một số điểm nằm xa hơn về phía Nam, Cuốn “Đông Tây Dương Khảo” và cuốn “Thuận Phong Tương Tống” đã dẫn ra ở trên, chẳng hạn đã cho biết Vạn Lý Thạch Đường và Vạn Lý Trường Sa nằm về phía Đông của Việt Nam. Điều này có thể hàm ý về một dải từ Bắc tới Nam. Hơn nữa, có một số câu cách ngôn xác định có một cái gì đó giống như một “đường vô hình” giữa nhóm đảo Thất Châu ở phía Bắc và Côn Đảo ở phía Nam, qua cách nói người ta nên cẩn thận lái thuyền đúng hướng khi đi qua hai điểm mốc này[32].

Điểm khác biệt lớn thứ hai là, ngay từ ban đầu người Bồ Đào Nha đã có sự phân biệt rõ ràng giữa khu vực nguy hiểm giữa quần đảo Hoàng Sa và dải đảo san hô nằm dọc theo bờ bắc đảo Borneo – bao gồm quần đảo Trường Sa. Tuyến đường từ Malacca tới Tg Datu và Moluccas, vòng quanh Sabah được khai thác thường xuyên vì vậy các hoa tiêu Bồ Đào Nha có ý niệm rõ ràng về các khu vực này. Trái lại người Trung Quốc chưa bao giờ cố gắng thể hiện trên bản đồ các dải đá, đảo khác nhau này một cách thực tế. Như đã nói, thậm chí cả bản đồ hàng hải Mao Kun cũng rất mơ hồ và khó giải thích về chi tiết này.

Tuy nhiên điều thú vị là cả bản đồ hàng hải Mao Kun và hầu hết các bản đồ của Bồ Đào Nha đều chỉ ra các vùng nguy hiểm trong Biển Đông theo một cách giống nhau tức là bằng hàng trăm chấm chấm nhỏ. Những khu vực nguy hiểm khác ví dụ như quần đảo Mandive và Laccadive cũng được vẽ bằng các chấm như trong bộ sưu tập Monumenta Cartographica đã minh họa đầy đủ. Hình như điều này là một điểm chung duy nhất trong cách vẽ bản đồ giai đoạn đó.

Hàn Chấn Hoa phân tích thêm về cách vẽ quần đảo Hoàng Sa trong các bản đồ hàng hải của Bồ Đào Nha. Trước tiên, vùng “hình lưỡi liềm” được vẽ như một dải liên tục. Sau đó đôi lúc nó bị cắt bởi các tuyến ngang. Có tất cả khoảng 2, 3, 5 hay 6 tuyến ngang và vì vậy có tối đa là 7 vùng chấm chấm. Người ta không hiểu lắm về cách thể hiện như vậy. Nhưng bằng cách nào đó nó gợi lại những truyền thuyết gắn liền với những vùng nguy hiểm khác. Chẳng hạn như các tác phẩm của Trung Quốc khẳng định là có bảy “lối vào” dẫn qua quần đảo Andaman và Nicobar[33].

Dựa trên những chứng cớ do Kamermer và các tác giả khác thu thập được, Hàn Chấn Hoa đã lưu ý chúng ta về một số điểm bổ sung quan trọng. Thứ nhất, theo họ Hàn, các đoạn trích ban đầu của Bồ Đào Nha về cái gọi là “ilhas da China” và “ilhas da Cantao” (có nhiều cách phát âm khác nhau) nên gắn với quần đảo Hoàng Sa. Thứ hai, ông này cũng tin rằng từ “Humen” (Houmen, v.v…) sau này được dùng cho “Boca Tigris” có thể hiểu là một số địa điểm ở nhóm đảo Hoàng Sa. Quan điểm này nhằm chứng minh rằng các nhà thám hiểm đầu tiên của Bồ Đào Nha đã ghé thăm các đảo này và quan trọng hơn, nhằm chứng minh rằng chúng thuộc phạm vi ảnh hưởng của Trung Quốc trong suốt giai đoạn này[34].

Trong khi những mô tả nhận dạng và khẳng định này vẫn còn mơ hồ, một gợi ý khác có lẽ nên được coi là nghiêm túc. Bộ sưu tập Portugiliae Monumenta Cartographica có một bản đồ do, hoặc được vẽ theo phong cách của Fernão Vaz Dourado thể hiện địa danh “ilhas da Boi†as” gần với quần đảo Hoàng Sa. Họ Hàn thấy được sự phát âm gần gũi giữa địa danh này và cách gọi Ba Tu (đảo Ba), một tên địa phương mà ngư dân đảo Hải Nam dùng để chỉ đảo Vĩnh Hưng (đảo Phú Lâm) thuộc nhóm đảo Hoàng Sa. Ông này cũng gán những địa danh khó có thể xác định là “Pulau Mio” và “Paxo” với các đảo này nhưng một lần nữa, điều này có cái gì đó gượng gạo. Tất nhiên mục đích ở đây là nhằm nhấn mạnh các yêu sách quyền bá chủ của Trung Quốc[35].

Kết luận

Vấn đề các đảo trong Biển Đông vẫn là một đề tài “tế nhị”. Các tài liệu của Trung Quốc không gợi cho người ta thấy rằng chúng là một phần của Đế chế Thiên triều thời Tống, Nguyên hay Minh (ghi chú: tôi không khảo cứu về thời nhà Thanh ở đây). Ở một mức độ nào đó, các thủy thủ Trung Quốc đã quen thuộc với chúng nhưng họ lại tránh đi đến đó. Những câu chuyện về ma quỷ, các đảo đá nguy hiểm và các dòng chảy ngầm bí hiểm lan truyền đồn đại từ đời này qua đời khác, do đó các chuyên luận và các bản đồ về địa lý không ghi chép gì cụ thể  về khu vực này. Không chắc là người ta sẽ tìm được trong các tài liệu này các bằng chứng rõ ràng chứng minh cho một quan điểm ngược lại. Các thủy thủ đầu tiên người Bồ Đào Nha cũng có những sự dè chừng giống như vậy. Họ cũng cố gắng tránh xa những khu vực cạm bẫy này.

Dường như không có nơi định cư ổn định trên bất kỳ đảo san hô nào trong Biển Đông – ít nhất là trong giai đoạn được khảo cứu ở đây. Chỉ có một vài túp lều tạm do ngư dân dựng lên, có thể tồn tại ở đây một lúc nào đó, và đây hoàn toàn chỉ là giả thiết. Các tài liệu viết không gợi cho người ta về sự tồn tại của các làng mạc như vậy[36]. Chúng cũng không gợi cho người ta biết là quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Đông Sa đã được chính quyền Trung Quốc quản lý về mặt hành chính. Điều thú vị là, trường hợp quần đảo Bành Hồ (Pescadores) nằm gần đảo Đài Loan lại rất khác; ở đó, chúng ta có chứng cứ rõ ràng về các chuyến thăm viếng của người Trung Quốc và sự tồn tại của các đồn tạm thời của chính quyền. Bằng chứng sớm nhất có niên đại từ thời nhà Nguyên[37]. Nếu các đồn tương tự đã từng được thiết lập ở nhóm đảo Hoàng Sa hay Đông Sa thì việc đó chắc chắn sẽ được chép lại trong các tài liệu này nhưng chúng lại không ghi chép gì cả.

Bất chấp những tài liệu được phát hiện đó, các học giả và nhà báo Trung Quốc đã có những cố gắng bất thường để chứng minh rằng toàn bộ Biển Đông từ lâu luôn luôn là “một cái hồ nội địa”. Trên phạm vi thế giới, có lẽ không có trường hợp nào lại có tỷ lệ ấn phẩm trên mét vuông đất nổi cao như vậy. Một khía cạnh gây ngạc nhiên trong bộ máy tuyên truyền này là, hầu như mọi người Hoa – những người đang sống ở CHND Trung Hoa, ở Trung Hoa Dân Quốc và ở hải ngoại – đều ủng hộ quan điểm của Trung Quốc. Do đó, Trung Quốc trở thành hàng xóm cạnh nhà của BruneiMalaysia. Thậm chí cả một người Trung Quốc đối lập nổi tiếng – Wei Jingsheng – người nổi tiếng với những cuộc khẩu chiến chống lại Chính phủ Bắc Kinh cũng có sự hòa nhịp tương tự (xem bài phỏng vấn mới đây với Karl-Heiz Ludwig trên nhật báo Die Welt, ngày 29/03/1999, tr. 8).


[13] J.V.G. Mills (dịch), “Mã Hoan, Doanh nhai thắng lãm, Một khảo cứu toàn diện về các nước ven biển [1433]”, bộ Hakluyt Society Extra Serier 42 (Cambridge: Tại Nhà xuất bản Đại học tổng hợp, 1970) tr. 73 và chú thích số 4; Samulels, “Phản đối”; tr. 21; “Nam hải chư đảo địa danh tư liệu hội biên”, tr. 154 – Feixin nêu ta một câu cách ngôn có địa danh Thất Châu; Câu cách ngôn này có lẽ có liên quan đến một đoạn trích trong cuốn “Đảo dị chí lược” của Uông Đại Uyên. Xem J.V.G. Mills (dịch) tái bản “Tinh sai thắng lãm” (“Khảo cứu toàn diện về Huyền sao của Phí Tín”) bộ “Nam Trung Hoa và hàng hải châu Á 4” (Wiesbaden: Harrassowitz Verlag, 1996) tr. 40 và chú thích số 48; “Đảo di chí lược sử” tr. 218, 221, 222, chú thích số 48 – Về “Vũ kinh Tổng yếu” xin xem trích dẫn trong chú thích số 5 trên đây.

[14] Huang Shengzeng (Hoàng Tỉnh Tăng, tác giả), Hạ Phương (xb) “Tây dương Triều cống điển lục”, bộ “Trung ngoại giao thông sử ký tùng san” (Bắc Kinh: Trung Hoa thư cục, 1982), J. Shang, tr. 1, 3, chú thích số 14, 15, 16: J.Zhong, tr. 55; tái bản, “Die Paracel – und Spratly – insel” tr. 171, 172; cách giải thích sai trong “Phản đối” của Sanuels, tr. 21. Dữ liệu về các tuyến đường thuyền buồm trong “Tây dương Triều cống điển lục” được một số tác giả nghiên cứu chúng cũng được đưa vào trong cuốn “Trịnh Hoà hạ Tây dương tư liệu hội biên” tập 1, của Zheng Haosheng và Zheng Yilung (bs) (Tế Nam: Thất Lục thư xã, 1980) tr. 293 – 297.

[15] Xem Đường Chu, “Chính Đức Quỳnh Đài Chí”, bộ “Thiên dị cổ tàng Minh đại phương chí tuyển san” tr. 60, 61, 2 tập. (Thượng Hải: Thượng Hải Cổ Tịch Thư Điển, 1982), i, j. 4, Hồ sơ 2b – 3a; ii, j.21 hồ sơ 9a, tái bản., “Die Paracel -und Spratly – inseln”, tr. 165 – 166 và các chú thích tại các trang đó.

[16] Hoàng Trung, “Hải Ngũ”, bộ “Bách bộ Thông thư kế thừa, Lĩnh Nam Di Thư” (Đài Bắc: Di Văn Ấn Thư Quán, 1965), j. 3, hồ sơ 1b – 2a; Liu Nanwei, “Nam Hải chư đảo cổ địa danh sơ đàm”, tr. 420, 421; “Nam Hải chư đảo sử địa nghiên cứu trát tập”, đặc biệt là tr. 22 trong cuốn “Hải Ngũ” và biên giới Việt – Trung thời nhà Minh. Về Lưu Sa Hà và Nhược Thuỷ (Joshui), xin xem, ví dụ như, các đoạn trích trong tái bản., “Cheng Ho’s Abeuteuer im Drawa und Roman der Ming – Zeit”, “Hsia His – yang: Eine Ubersetzung und Untersuchung”; “His – yang Chi: Ein Deutungsversunch, bộ Munchener Ostasiatische Studie 41 (Stuttgart: Franz Steiner Verlag, 1986), tr. 205 – 206 và chú thích số 5 tại các trang đó.

[17] Xem Cô Giới (Gu Jie), “Hải tra ngữ lục”, bộ “Bách bộ Thông thư kế thừa” “Ký lục hội biên” j.162 (Đài Bắc: Di Văn Ấn Thư Quán, 1965), hồ sơ 14a – b; Hoàng Tạc (HuangZuo) “Quảng Đông Thông Chí” 4 tập (Hongkong: Đại đồng đồ thư Công ty, 1977), IV, j, 79, hồ sơ 36b (tr.1906b).

[18] Luo Yehjiong (tác giả), Yusili (xb) “Tân An Tân lục” bộ “Trung ngoại giao thông sử ký tùng san” (Bắc Kinh: Trung Hoa Thư cục, 1983), h. 6, tr. 149.

[19] Xem, ví dụ như, Needham, “Khoa học”, iii, tr. 554 – 556; iV: 3 tr. 449 – 501; Ogawa Takuji, “Shina reikishi chiri kenkyu”, 2 tập. (Kyoto, 1928), chưa thấy; J.B. Harley và David Woodward (biên soạn), Joseph E. Schwartzberg và Cordell D.K. Yee (đồng biên soạn) “Thuật và bản đồ trong các xã hội truyền thống ở Đông Á và Đông Nam Á”, “Lịch sử nghề vẽ bản đồ” tập 22 (Chicago: NXBĐại học Tổng hợp Chicago, 1994), tr.244 – 249. Xem các thông tin thêm trong Yi chan, “Han’ guk Kochido” (Seoul: Han’ guk Tosogwanhak You’guhoe, 1977), “Han’ guk Kochido” (Seoul: Pom’ usa, 1991), và các tác phẩm khác.

[20] Needham, “Khoa học”, iii, tr. 551 – 55 – 4′ WelterFuchs, “Tập bản đồ Trung Hoa thời Nguyên Mông của Chu Tư Bản và Quảng Dư Đồ, cùng 48 bản sao bản đồ có niên đại khoảng năm 1555”, bộ “Monumenta Serca Monograph 8” (Peiping: Đại học Tổng hợp FuJen, 1946) tr. 43 – 44 (các bản đồ).

[21] Thương Hoàng, “Đồ Thư biên”, bộ “Tứ khố Toàn thư châu bản”, Vũ Kí tự bộ, 244 – 267, 24 tập (Đài Bắc: Di Văn ấn Thu Quán, 1974) Xi, j. 51, Hồ sơ 17a, 19b “Thạch Đường” trên bản đồ thứ hai có lẽ chỉ một địa điểm khác ?); Mao Nguyên Nghi (bs) “Vũ Bị Chí” 22 tập. (Đài Bắc: Hoa Sử Xuất bản xã, 1984), XXi, j. 223, Hồ sơ 10b – 12a (tr. 9570 – 9573). Có thể tìm thêm những ví dụ khác trong “Hoàng dư khảo” (1557). “Hải Phòng tổng yếu” (1613), v.v … Xem Lin Jinzhi, “Thạch Đường, Trường Sa địa danh tư liệu ký lục khảo sử” trong “Nam Hải chư đảo địa danh tư liệu hội biên”, tr. 426 (bài báo này được đăng lại trong “Nam Hải chư đảo sử địa chứng luận ký”).

[22] “Vũ Bị Chí”, XXii, j. 240, hồ sơ 10b – 11a (tr. 10196 – 10197); Samuels “Phản đối”, tr. 22; Mills, “Mã Hoan”, tr. 216, 217, 225, 272; Lin Nanwei “Nam Hải chư đảo cổ địa danh sơ đàm” tr. 420,  LiuJinzhi, “Thạch Đường, Trường Sa địa danh tư liệu ký lục khảo sử” tr. 426 và các tài liệu khác; Manguin, “Người Bồ Đào Nha”, tr. 73, chú thích số 5; “Hải quân dương sách hội nghiên cứu sở” “Đại liên hải vận học nguyên hàng hải sử nghiên cứu sở” (biên soạn) “Tân biên Trịnh Hoà hàng hải đồ ký” (Bắc Kinh: Nhân dân giao thông xuất bản xã, 1988), tr. 40 – 43. – Hàn Chấn Hoa chú ý đến một bản đồ khác, “Vạn lý hải phòng đồ” (1561). Ông này tin rằng nó vẽ những đảo chính của nhóm đảo Hoàng Sa, nghĩa là, đảo Vĩnh Hưng (đảo Phú Lâm – Wood island), đối diện với Vạn Châu và Văn Xương (ở đảo Hải Nam). Xem cuốn “Thất luật sử ký toàn kí Putaoya ky tại tỉnh du quan Tây Sa quần đảo quý thư Trung Quốc đắc ký điều tư liệu khảo đính”, trong cuốn “Nam Hải chư đảo địa khảo chứng luận ký” của ông, tr. 167. Theo ông Hàn, bản đồ này nằm trong cuốn “Thắng Khai Nguyên Tạp chú” của Zheng Ruozeng J.Z, hồ sơ 28a, hiện tôi không có. Hàn nói rằng nó cũng có ở trong cuốn “Trù Hải Đồ biên” của Hồ Tông Hiến (1562). Tôi đã kiểm tra trong nội dung cuốn này in trong “Tứ Khố toàn thư châu bản” nhưng không có. Vào thời nhà Minh, Vạn Châu và Văn Xương là các đơn vị hành chính nằm trên đảo Hải Nam; Xem Yang Dechun, “Hải Nam đảo cổ đại giản sử” (Trường Xuân: Đông bắc sử phiên Đại học xuất bản xã, 1988), ví dụ tr. 7985 – về việc các bản đồ hiện đại chi tiết thể hiện đảo Vĩnh Hưng (đảo Phú Lâm) và một đảo nhỏ cạnh đó – đảo Thạch (Rocky island), xin xem “Nam hải chư đảo địa danh tư liệu hội biên, các bản đồ ở tr. 175, 181, 183. Bản đồ trang 183 chỉ rõ các điểm cao trên cả hai đảo này.

[23] Về các thời kì phát triển khác nhau của thương mại hàng hải thời Minh và các đặc trưng của chúng, xin xem tái bản., “Thương mại hàng hải thời Minh với Đông Nam Á, 1368 – 1567: Hình ảnh về một hệ thống”, trong Claude Guillot, Denys Lombard và tái bản. (biên soạn), “Từ Địa Trung Hải tới biển Trung Hoa: Những ghi chép đa dạng”, bộ “Biển Nam Trung Hoa và Hàng hải Châu Á 7” (Wiesbaden: Harrassowitz Verlag, 1998), tr. 157 – 191.

[24] Một tác phẩm có nhiều thông tin về các tuyến đường thuyền buồm là cuốn “Hải quốc quảng ký” của Thận Phàm. Các đoạn có liên quan được in trong Zheng Haosheng và Zheng YiLun, “Trịnh Hoà Hạ Tây dương tư liệu hội biên” tr. 306 – 327.

[25] Trương Nhiếp (tác giả) Hiệp Phương (xB). “Đông Tây Dương Khảo” bộ “Trung ngoại giao thông sử ký tùng san (Bắc Kinh: Trung Hoa thư cục, 1981), j. 9, Châu sử khảo, tr. 172  “Quỳnh Châu chí” được trích dẫn trong mục đầu tiên, và địa danh “Vạn Lý Thạch Đường” được gắn với cái tên “Thạch Đường Hải” phía đông Vạn Châu. Xem thêm Samuels, “Phản đối”, tr. 18.

[26] “Đông Tây Dương Khảo”, j.9, tr. 189; XiangDa (xb) “Lưỡng Trung Hải đảo Trần Tinh”, bộ “Trung ngoại giao thông sử ký tùng san” (Bắc Kinh Trung Hoa thư cục, 1982) tr. 27, 28, 33 (tr. 28 cũng có nêu địa danh Vạn lý Trường Sa trên hành trình trở về Trung Quốc); Mills “Mã Hoan” tr. 225, 274 (Cù lao Ré); Manguin, “Người Bồ Đào Nha”, tr. 60 (Pulau Cantao, cũng có nhiều cách phát âm khác); LinJinzhi, “Thạch Đường, Trường Sa địa danh tư liệu ký lục khảo sử”, tr. 428; Wang Yungjie, “Cổ đại Trung Quốc đối Nam Hải chư đảo đạo giáo địa lý nhân sĩ đắc phát triển”, tr. 146.

[27] “Lưỡng Trung Hải Đảo Trấn tinh”, tr.108, 117, 121, 122. Xem thêm, ví dụ như, Liu Nan Wei, “Nam Hải chư đảo cổ địa danh sơ đàm, tr. 421′ Lin Jinzhi, “Đông Sa quần đảo lịch sử khảo lược” trong “Nam Hải chư đảo địa danh tư liệu hội biên”, tr. 477; “Quảng Đông tỉnh tân cổ địa danh từ điển biên soạn vi nguyên hội” (xb) “Quảng Đông tân cổ địa danh từ điển”, (Thượng Hải:Thượng Hải Tứ Thư xuất bản xã, 1991), tr. 971, 972.

[28] Armando Cortesão và Avelino Teixeira de Mota (xb), “Portugaliae Monumenta Cartographica”, 7 tập, (Lisbon: imprensa Nacional – Casa da Moeda, 1988; nguyên bản 1960).

[29] Có thể các thương nhân Bồ Đào Nha đi thuyền buồm “thẳng” từ Malacca tới Trung Quốc đã được các hoa tiêu Trung Quốc chỉ cho con đường “bên ngoài”. Xem Hàn Chấn Hoa “Thất lục sử ký” tr. 161, 162. Tuy nhiên, những lập luận do Mauguin thu thập được trong cuốn “Người Bồ Đào Nha” tr. 171 – 177 không tán thành khẳng định này. Rất có thể, tuyến đường “bên ngoài” mởi chỉ được sử dụng vào cuối thế kỷ 16 và chỉ trong một số ít lần hy hữu.

[30] Về địa danh theo tiếng Tây “Paracel”, nghĩa là “đảo đá” hay “bãi cạn”, xin xem, ví dụ như, Mauguin, “Người Bồ Đào Nha”, tr. 73, chú thích số 5. Hàn Chấn Hoa “Gu Palasai’ er Kao”, tr.2, trong cuốn “Nam Hải chủ đảo sử địa khảo chứng luận ký” của ông, tr. 216 – 219, đã có nhiều chi tiết hơn về tên và thuật ngữ chung “barreiras” được dùng trước đó một thời gian. Ông này cho rằng “Paracel” thay cho toàn bộ “khu vực” và không phải chỉ riêng quần đảo Hoàng Sa.

[31] Dumoutier, “Nghiên cứu:, tr. 149 và tr. XiX; Mauguin, “Người Bồ Đào Nha”, tr. 73, chú thích số 5.

[32] Về “Thuận Phong Tương Tống” và Đông Tây Dương Khảo, xin xem chú thích số 27 trên đây. Có thể tìm thấy một câu cách ngôn trong cuốn “Mộng Lương Lục” (1275) của Ngô Tự Mục: “Khi đi thì sợ Thất Châu, khi về thì sợ Côn Lôn …” (Bản tiếng Anh có trong Samuels, “Phản đối”, tr. 17; xem thêm các đoạn trích được dẫn ở trên trong chú thích số 13). Rõ ràng cả hai điểm mốc này đều là những địa điểm quan trọng mà các thủy thủ phải đi về phía Tây tuyến đường để tránh bị đắm tàu tại vùng nước phía Đông quần đảo Hoàng Sa. Về “Mộng Lương Lục”, xem thêm, ví dụ như, tái bản., “Die Paracel – und – Spratly – inseln”, tr. 174. Có một nhận xét thú vị là ngư dân Trung Quốc sử dụng từ “Thạch Đường” làm tên chỉ nhóm Vĩnh Nhạc (nhóm Tây) nhóm tạo thành “vành” phía Tây của quần đảo Hoàng Sa. Dong buồm từ Việt Nam về phía Đông, khoảng 16 độ và 17 độ vĩ Bắc người ta sẽ đi vào Thạch Đường. Về mối liên hệ giữa các địa danh Vĩnh Nhạc và Thạch Đường, xin xem, ví dụ như, “Nam Hải chư đảo địa danh tư liệu hội biên”, biểu tr. 69 (số 10), bản đồ tr. 75.

[33] Hàn Chấn Hoa “Gu ‘Palasai’er Kao”, P.2, tr. 206-207; tái bản. “Doe Andamanen und Nikobaren nach chinesischen Quellen (Ende sung bis Ming)” “Zeitschrift der Deutchen Morgenlandischen Gesellschaft 140 (1990), tr. 356, 362; Mills/tái bản., “Tinh sai thắng lãm”, tr. 62. Mới đây, một số bản đồ trong bộ sưu tập “Portugaliae Monumenta Cartographica” cũng được công bố trong Alfredo Pinhero Marques, “A cartographica portuguesa do Japão (séculos XVI e XVII). Catálago das cartas portuguesas (Lisbon: Funda†ão Oriente, v.v…,n.d; lời tựa 1996). Luis Filipe Barreto và những người khác, “Cartographica de Macau Séculos XVI e XVII” (Lisbon: Missão de Macau em Lisboa, centro Cientdico e Cultural de Macau, 1997), và “Fernão Mendes Pinto e os mares da China” (Lisbon: cùng nhà xuất bản, 1998).

[34] Albert Kammerer, “Việc người Bồ Đào Nha khám phá Trung Hoa vào thế kỷ 16 và việc vẽ các hải đồ cổ” (Leiden: E.J.Brill, 1944, bổ sung cho “T’oung Pao” 39) đặc biệt tr. 10; Hàn Chấn Hoa, ‘Thất lục sử ký”, tr.162-164. – Tại một chỗ nào đó trong bài viết của mình, ông Hàn gắn địa danh “Cantao” với địa danh Gandao mà ngư dân Trung Quốc sử dụng. Rõ ràng là ‘Gandao” được dùng để chỉ Bắc Tiêu, nghĩa là đá Bắc (North Reef) nằm ở phần phía Tây Bắc của quần đảo Hoàng Sa. Về các địa danh, xin xem bảng trong “Nam hải chư đảo địa danh tư liệu hội biên”, tr. 69, và bản đồ tr.175 – Vấn đề này rất phức tạp vì ‘Cantao” (có nhiều cách viết khác nhau) thường được đồng nhất với Cù Lao Ré (xem chú thích số 26 trên đây). Cả Pulau Cantao và Bắc Tiêu nằm cách nhau không quá xa. Có thể một số thủy thủ lẫn lộn chúng với nhau.

[35] “Portugaliae Monumenta Cartographica”, ii, tr.285; Hàn Chấn Hoa, ‘Thất lục sử ký” tr.166-167, và “Gu’Palasai’er Kao”, P. 2, tr. 209 (bảng). Hàn nhận thấy mối liên hệ giữa “Pulau Mio” và các địa điểm như Maoxing và Maozhu được liệt kê trong các sổ tay hàng hải truyền thống được ngư dân Trung Quốc sử dụng. Một số trong các sách này (được gọi là ‘Thủy lộ bộ” hay ‘Canh lộ bộ” được  in trong cuốn “Nam hải chư đảo địa danh tư liệu hội biên”. Về các địa dnah này, xin xem, ví dụ như, tr.70 (số 31), 71 (số 45) và 88 trong tác phẩm đó. – Những dữ liệu được sưu tập trong “Thủy lộ bộ’nhắc lại các chi tiết có trong các chuên khảo về hàng hải cuối thời Minh như “Thuận Phong Tương Tống”, nhưng rất có thể là nó có nguồn gốc sau đó rất xa. Tôi nghi là liệu ông He Jisheng và các tác gia khác có đúng khi khẳng định rằng cuốn “Thủy lộ bộ” có từ thời Minh-Thanh hay không; Thanh thì có thể chấp nhận được nhưng Minh xem ra hoàn toàn không thể. Xem “Thuỷ lộ bộ’ sơ đàm” của ông He trong “Nam hải chư đảo địa danh tư liệu hội biên” tr. 542 – 543.

[36] Như trên, tr. 542. He Jisheng dẫn ra một từ điển địa lý cuối thời Thanh hình như đã nói bóng gió về sự hiện diện của nông dân tại các đảo này, nhưng đoạn trích này rất mơ hồ. Hơn nữa, tài liệu được dẫn ra trong từ điển địa lý này không thể kiểm chứng và thời điểm mà ông He đưa ra (1488) không phù hợp với thời điểm mà tôi có thể tìm thấy trong danh mục hiện nay (1511). Về thời điểm năm 1511 xin xem Li Mo, “Quảng Đông Phương chí yếu lục”, tr. 435.

[37] Về Bành Hồ, xem, ví dụ như Cai PingLi, “Bành Hồ Thông sử” (Đài Bắc: Trung Văn đồ thư cố phần hữu hạn công ty, 1979).

 

http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-nuoc-ngoai/890-roderik-ptak

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s