Dầu khí trong các vùng biển của Trung Quốc: Sự lúng túng trong hợp tác quốc tế

Bài: Khâu Triệu Phong

Bài viết trên Tạp chí  “Cửa sổ Nam Phong” Trung Quốc ngày 20-01-2010

http://www.nfcmag.com/articles/1912

Phần mở đầu và  phần 1 chỉ là các nhận xét và tổng hợp từ các bản tin của Nhật bản của tác giả về sự hợp tác cùng khai thác dầu tại khu vực biển phí Đông của Trung Quốc với Nhật Bản, theo đó Trung Quốc chấp nhận cùng khai thác với Nhật Bản nguồn tài nguyên dầu khí trong các vùng biển thuộc chủ quyền của Trung Quốc.

Phần 2 có liên quan đến việc khai thác dầu khí ở khu vực biển Nam Trung Quốc (Biển Đông)

Nguyễn Thanh Hạ sưu tầm

————————————————-

Khu vực tranh chấp ở Nam Hải, Trung Quốc “Nộp giấy trắng”

Vấn đề khai thác dầu khí ở khu vực biển Đông Trung Quốc là một cái bóng nghiêng trong xung đột giữa Nhật Bản và Trung Quốc về chiến lược biển, và cũng không loại trừ sau này sẽ nó sẽ trở thành sợi dây liên kết trong quan hệ hợp tác tài nguyên của đôi bên. So với vấn đề đó thì vấn đề tranh chấp trong khu vực Nam Hải(Biển Đông của Việt Nam) còn khó khăn hơn nhiều, vì Trung Quốc không có sự tồn tại kinh tế như vậy ở khu vực này.

Theo các thăm dò có liên quan, trữ lượng dầu khí của cả khu vực Nam Hải khoảng hơn 23 tỷ tấn, được coi là “Vịnh Ba Tư thứ hai” hay là “kho báu tài nguyên dưới chân của Trung Quốc”.Nhưng Trung quốc chỉ mới có thể khai thác tài nguyên tại các khu vực như Vịnh Bắc Bộ, cửa sông Châu Giang và khu vực gần đảo Hải Nam, còn đối với các khu vực nước sâu thuộc khu vực Nam Sa (Trường Sa), khu vực có tranh chấp với các nước Đông Nam Á thì chỉ là “ngắm biển than trời”, ngược lại với tình hình này ở các nươc Việt Nam, Malaixia, Brunei, Philippin Indonexia lại là “ngựa phi nước đại” đang nhanh chóng “như vũ như bão” cướp đoạt nguồn tài nguyên dầu khí này. Theo các thống kê chưa đầy đủ thì các nước Việt Nam, Philippines đã lôi kéo hơn 200 công ty dầu mỏ lớn trên khắp thế giới bao gồm Exxon – Mobil, Shell, đã khoan hơn 1000 giếng dầu tại các khu vực có tranh chấp, sản lượng dầu khai thác hàng năm lên tới 50 triệu tấn.

Phải nói rằng từ  những năm 1980 đã có 3 công ty dầu khí Trung Quốc được nhà nước cấp phép khai thác tại các khu vực có tranh chấp, nhưng do các nhân tố chính trị và kỹ thuật khai thác tại khu vưc nước sâu, làm cho việc khai thác dầu tại khu vực này của Trung Quốc từ đó đến nay vẫn chỉ là “một trang giấy trắng”, chưa hề khoan một giếng dầu, chưa hề khai thác một thùng dầu nào. Mặc dù vào năm 1992 Trưng Quốc đã phê chuẩn công ty nhiên liệu Christon của Mỹ được phép khai thác tại khu vực số 21- Bắc Vạn An, nhưng hợp đồng thăm dò và khai thác của công ty Christon đã vấp phải sự phản đối kịch liệt của Việt Nam, cuối cùng sự hợp tác quốc tế này chỉ còn tồn tại trên danh nghĩa. Sau đó,ngoại trừ “Tuyên bố về cách Ứng xử của Các bên ở Biển Đông” vào năm 2002 và ba nước Trung Quốc, Việt Nam, Philippines cùng ký “hợp tác liên kết nghiên cứu địa chấn hải dương” vào năm 2005, nước ta (Trung Quốc) đã đưa ra nguyên tắc “gác lại tranh chấp cùng khai thác” ra hợp tác quốc tế và được nhiều nước hưởng ứng, dẫn đến cục diện các nước trong khu vực “gác lại tranh chấp với Trung Quốc, hợp tác cùng khai thác với các công ty phương Tây”.

Kèm theo sự phát triển của kinh tế Trung Quốc là nhu cầu về nhiên liệu ngày càng tăng, những lợi ích về dầu khí trong khu vực biển xung quanh trở thành mối quan tâm chính của Trung Quốc trong các vấn đề ngoại giao. Nhật Bản là một nước có truyền thống có nhu cầu cao về nhiên liệu, quan hệ Trung Nhật trong vấn đề này có thể tạm thời gác lại không phải lo lắng, nhưng sợi dây thần kinh yếu ớt này có thể bị giật và làm lay động tới toàn thân bất cứ lúc nào. Tại Nam Hải, điều cần thiết của Trung Quốc hiện nay là phải phá vỡ sự im lặng, có một chiến lược phát triển rõ ràng, nhanh chóng thực thi các hành động thực tế để định vị các hải vực tại Nam Hải. Trong đó, cần phát triển sức mạnh tiếp tế quân sự, nâng cao khả năng khai thác dầu tại những khu nước sâu, đây là hai vấn đề lớn cần song song tiến hành để bổ sung cho nhau. Đồng thời, để giảm bớt sự phụ thuộc vào việc nhập khẩu nhiên liệu thông qua con đường vàng- eo biển Malacca, Trung Quốc cần phải xây dựng con đường vận chuyển nhiên liệu trên bộ thông qua Miến Điện và Pakistan, cũng như tăng cường hợp tác quốc tế về tài nguyên, nhằm đối phó các khả năng biến động có thể xảy ra. Sự thành công về mặt này sẽ có thể giảm bớt phần nào sự lúng túng trong hợp tác tài nguyên dầu khí với các nước trong khu vực xung quanh biển Trung Quốc.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s